Marie và Pierre Curie quyết định không đăng ký bằng sáng chế cho quy trình tách radium từ quặng, và công bố chi tiết để ai cũng làm theo được. Chính Marie kể lại điều này trong cuốn sách viết về chồng, Pierre Curie (1923): hai ông bà từ chối mọi lợi ích vật chất từ khám phá của mình. Cái giá họ trả là phòng thí nghiệm của chính họ nhiều năm thiếu radium để nghiên cứu, trong khi ngành công nghiệp radium phát triển nhanh và giá một gram lên tới khoảng 100.000 đô-la Mỹ đầu thập niên 1920.
Bài này không kể lại việc tìm ra radium. Nó chỉ xoay quanh một khoảnh khắc: khi một phát hiện có thể thành tiền, hai nhà khoa học đã chọn thế nào, và lựa chọn ấy dẫn tới đâu.
Thứ có thể đem đi đăng ký: cách tách, không phải nguyên tố
Một nguyên tố hoá học không thể đem đi cấp bằng sáng chế. Nhưng quy trình tách nó ra khỏi quặng thì có thể. Đầu những năm 1900, việc tách radium là công việc cực nhọc: hàng tấn bã quặng urani chở từ mỏ Joachimsthal (nay là Jáchymov, Cộng hoà Séc) về Paris, nghiền, hoà tan, kết tinh phân đoạn hàng nghìn lần. Năm 1902, Marie thu được khoảng một phần mười gram muối radium tinh khiết.
Cách làm ấy là kiến thức mà nhà máy nào cũng cần nếu muốn sản xuất radium. Và radium khi đó vừa được phát hiện có thể dùng để điều trị một số khối u, nên nhu cầu tăng lên rất nhanh. Ai giữ quyền với quy trình, người đó có thể thu tiền từ cả ngành.
Cuộc trò chuyện được kể lại: phần sử liệu và phần dựng lại
Câu chuyện quen thuộc nhất về quyết định này đến từ cuốn tiểu sử Madame Curie do con gái út của bà, Eve Curie, viết năm 1937. Eve kể rằng một sáng Chủ nhật, Pierre nhận thư của các kỹ sư ở Mỹ hỏi về cách tách radium. Ông nói với vợ rằng có hai đường: mô tả mọi thứ không giữ lại gì, hoặc xin bằng sáng chế trước. Theo lời Eve, Marie trả lời rằng làm vậy là trái với tinh thần khoa học, và Pierre đồng ý.
Nên đọc đoạn này với hai lớp. Lớp thứ nhất là sự kiện: hai ông bà không đăng ký bằng sáng chế và công bố phương pháp, điều này có trong chính sách của Marie và trong các công bố khoa học thời đó. Lớp thứ hai là lời thoại: Eve sinh năm 1904, viết lại cuộc trò chuyện hơn ba mươi năm sau, dựa trên lời kể của mẹ và tư liệu gia đình. Lời thoại ấy là tái dựng, không phải biên bản.
Các phương án và điều họ cân nhắc
| Phương án | Được gì | Mất gì |
|---|---|---|
| Đăng ký bằng sáng chế quy trình | Tiền để xây phòng thí nghiệm, mua quặng, nuôi gia đình | Trái với nguyên tắc khoa học công khai mà họ theo; có thể làm chậm việc dùng radium chữa bệnh |
| Giữ bí mật, tự sản xuất | Kiểm soát nguồn radium | Hai nhà khoa học không có nhà máy, không có vốn; biến phòng thí nghiệm thành cơ sở kinh doanh |
| Công bố đầy đủ, không giữ quyền | Nhiều nơi cùng sản xuất, radium đến tay bác sĩ nhanh hơn; giữ được tinh thần khoa học | Không có thu nhập từ phát minh; về sau chính họ phải mua radium với giá thị trường |
Điều đáng chú ý là họ không nghèo về ý tưởng nhưng nghèo về phương tiện. Phòng thí nghiệm đầu tiên của họ là một nhà kho dột nát ở trường Vật lý và Hoá học Paris. Từ chối tiền ở thời điểm ấy không phải là từ chối thứ dư thừa. Đó là từ chối thứ họ đang thiếu.
Hệ quả: ngành radium lớn lên, phòng thí nghiệm vẫn thiếu
Không có bằng sáng chế, các nhà máy ở Pháp và sau đó ở Mỹ bắt đầu sản xuất radium. Năm 1904, nhà công nghiệp Émile Armet de Lisle mở xưởng sản xuất radium ở Nogent-sur-Marne, ngoại ô Paris, làm việc gần gũi với phòng thí nghiệm Curie. Tới thập niên 1910, nguồn quặng ở bang Colorado (Mỹ) khiến nước Mỹ thành nơi sản xuất radium lớn.
Radium được dùng trong điều trị ung thư, phương pháp mà người Pháp gọi là curiethérapie. Nó cũng bị đem dùng tràn lan vào sơn dạ quang, mỹ phẩm, nước uống "bổ dưỡng". Thảm hoạ của các nữ công nhân sơn mặt đồng hồ ở Mỹ thập niên 1920, nhiễm độc vì dùng môi vuốt đầu cọ dính sơn radium, là một mặt tối của ngành này. Nhưng cần nói rõ: đó là chuyện thiếu hiểu biết và thiếu quản lý an toàn, không phải hệ quả của việc nhà Curie không giữ bằng sáng chế.
Pierre mất năm 1906 trong một tai nạn xe ngựa. Marie tiếp tục nghiên cứu, nhận giải Nobel Hoá học năm 1911. Đầu thập niên 1920, Viện Radium ở Paris của bà chỉ có khoảng một gram radium cho nghiên cứu, trong khi các phòng thí nghiệm ở Mỹ có nhiều hơn.
Gram radium năm 1921: nguyên tắc được giữ đến phút chót
Năm 1920, nhà báo Mỹ Marie Mattingly Meloney phỏng vấn Marie Curie và biết bà không đủ tiền mua thêm radium. Meloney vận động phụ nữ Mỹ quyên góp được khoảng 100.000 đô-la. Năm 1921, Marie sang Mỹ nhận món quà là một gram radium.
Theo tiểu sử do Eve Curie viết, đêm trước buổi lễ, khi đọc giấy tờ tặng thấy gram radium được ghi là tài sản riêng của mình, Marie yêu cầu sửa lại để nó thuộc về phòng thí nghiệm, không thuộc về cá nhân hay người thừa kế. Chi tiết này cho thấy quyết định hai mươi năm trước không phải một phút bốc đồng: bà vẫn phân biệt rõ phương tiện làm việc (được nhận) với tài sản cá nhân từ khám phá (không nhận).
Bài học về chọn theo nguyên tắc
Nguyên tắc rõ thì quyết nhanh
Khi đã biết mình coi trọng điều gì, những quyết định khó có thể chốt trong một buổi sáng. Nhà Curie không cần lập bảng so sánh dài: câu hỏi chỉ là phương án nào phù hợp với tinh thần khoa học công khai.
Nguyên tắc có giá, và nên biết giá trước
Nhà Curie trả giá bằng nhiều năm thiếu thốn. Chọn theo nguyên tắc không có nghĩa là không mất gì; nó có nghĩa là chấp nhận mất thứ đó một cách có ý thức.
Nguyên tắc cần ranh giới chính xác
Marie không từ chối mọi khoản tiền. Bà nhận quà cho phòng thí nghiệm, nhận tiền giải Nobel và dùng cho nghiên cứu. Ranh giới nằm ở chỗ: không biến khám phá thành tài sản riêng. Nguyên tắc càng cụ thể thì càng ít phải đắn đo từng lần.
Thử viết một câu: nghĩ tới một loại tình huống bạn hay phân vân (nhận việc ngoài giờ, cho bạn mượn tiền, nhận quà từ khách hàng). Viết một câu ranh giới theo mẫu "Mình nhận… nhưng không nhận…". Lần sau gặp tình huống đó, đọc lại câu ấy trước khi trả lời.
Góc nhìn hôm nay: thăm và đọc
Bảo tàng Curie (Musée Curie) nằm trong khuôn viên Viện Curie ở quận 5, Paris, giữ lại phòng làm việc và phòng thí nghiệm của Marie. Ở Warszawa (Ba Lan), Bảo tàng Maria Skłodowska-Curie đặt tại ngôi nhà trên phố Freta nơi bà ra đời. Thị trấn Jáchymov ở Cộng hoà Séc, nơi cung cấp quặng cho nhà Curie, nay là khu nghỉ dưỡng suối khoáng.
Để đọc thêm, nên bắt đầu từ chính cuốn Pierre Curie do Marie viết (1923), sau đó là tiểu sử của Eve Curie (1937) với lưu ý đây là sách của người trong gia đình. Hai cuốn tiểu sử độc lập hơn là Marie Curie: A Life của Susan Quinn (1995) và Obsessive Genius của Barbara Goldsmith (2005).
Câu hỏi thường gặp
Marie Curie có đăng ký bằng sáng chế radium không?
Không. Marie và Pierre Curie quyết định không đăng ký bằng sáng chế cho quy trình tách radium từ quặng và công bố phương pháp công khai. Marie tự kể lại việc từ chối lợi ích vật chất này trong cuốn sách Pierre Curie năm 1923.
Vì sao nhà Curie không đăng ký sáng chế cách tách radium?
Họ cho rằng giữ độc quyền một khám phá khoa học là trái với tinh thần khoa học công khai, nhất là khi radium vừa được thấy có ích trong điều trị bệnh. Lời thoại quen thuộc về cuộc bàn bạc giữa hai người đến từ tiểu sử do Eve Curie viết năm 1937, là phần tái dựng chứ không phải biên bản.
Radium đắt cỡ nào vào đầu thế kỷ 20?
Đầu thập niên 1920, giá một gram radium khoảng 100.000 đô-la Mỹ. Năm 1921 phụ nữ Mỹ quyên góp số tiền tương đương để tặng Marie Curie một gram cho phòng thí nghiệm của bà, qua cuộc vận động của nhà báo Marie Mattingly Meloney.
Không đăng ký sáng chế khiến nhà Curie mất gì?
Họ không có thu nhập từ ngành công nghiệp radium đang lớn nhanh, và về sau phòng thí nghiệm của Marie phải mua hoặc xin radium để nghiên cứu. Đầu thập niên 1920, Viện Radium ở Paris chỉ có khoảng một gram radium.
Có thể thăm nơi làm việc của Marie Curie ở đâu?
Bảo tàng Curie ở quận 5, Paris, giữ lại phòng làm việc và phòng thí nghiệm của bà. Ở Warszawa có Bảo tàng Maria Skłodowska-Curie tại ngôi nhà nơi bà sinh ra, trên phố Freta.